Gallery

Học Kỳ Đầu Tiên Của Tôi Tại Loyola University Chicago

Những ngày lo hoàn tất thủ tục tại Houston Community College để chuyển lên Loyola University Chicago đã xong. Thật sự, tôi thấy nhẹ cả người. Khăn gói hành trang mọi thứ cho chuyến hành trình mới này làm tôi hơi băn khoăn khi nghĩ về chỗ ở và trường học mới. Tôi mường tượng về những con người mới mình sẽ học và làm việc chung. Thế rồi chuyến bay 6:00 PM của hãng Southwest đã đưa tôi tới phi trường Midway lúc 8:30 PM ngày 21/8/2010. Phải mất cả tuần loay hoay đi tìm mua một chiếc xe second hand và làm thủ tục nhập trường, tôi đã bắt đầu chương trình đúng ngày 31/8/2010. Trong đầu óc tôi vẫn luôn đầy ắp những câu hỏi và thắc mắc về trường và ngành tôi sẽ học. Nào là quản trị mục vụ là gì? Theo ngành này sẽ phải học những môn nào và trong thời gian bao lâu? Ngành này sẽ giúp ích gì cho tôi?

Trước tiên, tôi xin gới thiệu đôi nét về trường Đại học Loyola, thành phố Chicago. Đây là một trong 28 trường cao đẳng và đại học của Dòng Tên trên toàn nước Mỹ. Năm học 2010, toàn trường có 15.879 sinh viên tính theo tỉ lệ 14/1, cứ mười bốn sinh viên tương ứng với một nhân viên làm việc tại trường. Như thế, tính từ cha Viện Trưởng, các giáo sư, phụ giảng, cho đến các nhân viên cả thảy hơn 1000 người. Trường đại học Loyola Chicago có ba khu chính: khu Lakeshore, Water Tower và Recreation, trải dài trên ba khu đất rộng lớn gần bờ hồ Michigan tráng lệ. Trung tâm đào tạo của trường có liên hệ với hàng trăm viện văn hóa và hàng ngàn sinh viên thực tập, kết nối tạo cơ hội việc làm với khoảng 500 công ty. Ngoài ra, trường còn có những chương trình đào tạo tại Roma, Trung Quốc và Việt Nam. Nhà trường nhắn nhủ tất cả các sinh viên: “Khi các chương trình nghiên cứu và học tập khắt khe là nét đặc trưng của nền giáo dục Dòng Tên, chúng tôi không chỉ chuẩn bị cho sinh viên việc làm, mà đang chuẩn bị cuộc sống cho các em. Chúng tôi đòi hỏi các em học ở tầm mức rộng, biết suy nghĩ có phê phán, biết phục vụ cách quảng đại, biết hướng tới sự hoàn hảo, và biết tôn trọng sự khác biệt. Chúng ta đến từ những niềm tin, chủng tộc và bối cảnh kinh tế khác nhau, nhưng có cùng mục đích chung là xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn” (LUC).

Tôi học ở khu Water Tower, ngay trung tâm của thành phố Chicago, và nội trú tại cộng đoàn các thầy dòng Camêlô ở hướng Nam thành phố. Vì thế, di chuyển từ nhà đến trường mất khoảng 35 phút và chuyển xe một lần từ xe bus sang tàu điện. Nếu lái xe đi học, có khi mất hơn một giờ, vì các đường cao tốc dẫn vào thành phố hơi ít và hẹp. Việc gởi xe cũng bất tiện, tôi phải trả $1 cho mỗi 25 phút đậu xe tại lề đường hoặc trong các parking. Nếu lỡ đậu xe sai chỗ, cảnh sát phạt rất nặng, khoảng $200 cho một lần, cứ ký check rồi gởi về cơ quan thành phố. Vả lại, đây là thành phố đông đúc với gần ba triệu dân, nên thành phố khuyến khích sử dụng các phương tiện công cộng để đi làm và đi học. Trường cũng cung cấp cho tôi một thẻ của CTA (Chicago Transit Authority) để đi xe bus và tàu điện trong suốt học kỳ. Đó là chuyện về trường học và thành phố, còn chuyện ngành học thì sao?

Ngành tôi đang theo học là một trong bảy phân ngành do Khoa Đào Tạo Về Mục Vụ (The Institute of Pastoral Studies ‘IPS’) đảm nhận, bao gồm Tư Vấn Mục Vụ (Master of Arts in Pastoral Counseling), Quản Trị Mục Vụ (Master of Arts in Pastoral Studies), Giáo Dục Tôn Giáo (Master of Arts in Religious Education), Công Bằng Xã Hội Và Phát Triển Cộng Đồng (Master of Arts in Social Justice and Community Development), Linh Hướng (Master of Arts in Spirituality/Spiritual Direction), Thần Học (Master of Divinity), và Đào Tạo Thừa Tác Viên (Sabbatical Program). Có thể nói, “IPS đào tạo các sinh viên về mục vụ chuyên nghiệp, phát triển đời sống tâm linh và vai trò lãnh đạo trong đời sống đức tin tôn giáo với các ngành nghề ở phạm vi rộng. Qua các chương trình học và việc đào tạo đời sống tâm linh, các sinh viên phát triển kiến thức thực tế về thế giới, kỹ năng suy tư thần học, thực hành mục vụ, và đánh giá về đạo đức” (IPS).

Ngành Quản Trị Mục Vụ, tên tiếng Anh có trường gọi là Pastoral Administration, trường thì viết là Pastoral Studies hay Pastoral Ministry, cũng có người dịch ra tiếng Việt là Mục Vụ Hành Chánh. Nhưng nói chung, đó là ngành bao trùm việc phát triển bốn chiều kích: Thuộc linh, trí thức, mục vụ, và con người. Khoa IPS nêu mục tiêu cho các sinh viên ngành Quản Trị Mục Vụ: “Trợ lực cho con tim sứ vụ, thừa tác viên mục vụ có hiệu quả cần trưởng thành trong đời sống cá nhân và tâm linh, có kiến thức về thần học, các lãnh vực khác, và kỹ năng mục vụ. Chương trình này cung cấp một hệ thống nhất thống và chuyên sâu về giáo dục trong lãnh vực mục vụ cơ bản và phương pháp học; nó giúp cho các thừa tác viên có một nền tảng tổng quát và sâu về tư tưởng tôn giáo, đặt nền móng cho việc thực hành mục vụ hiệu quả và thuần thục” (IPS). Sinh viên có thể lấy chương trình MA về mục vụ thông qua một giáo trình cơ bản theo quy định hoặc theo một chương trình giảng dạy cá nhân (online), nó tùy thuộc vào kinh nghiệm và giáo dục trước đây họ đã có về mục vụ. Chương trình giảng dạy truyền thống này được thiết lập để củng cố những bước đi đầu tiên trong việc đào tạo về mục vụ, nó bao gồm các lớp học Kinh thánh, thần học mục vụ, và kỹ năng mục vụ, cũng như những quan tâm khác, trong đó có mục vụ chăm sóc y tế. Vì thế, để hoàn tất chường trình cao học Quản Trị Mục Vụ, tôi phải hoàn tất hết thảy 36 tín chỉ (credits) trong vòng hai năm, gồm tám lớp về thần học (24 credits), ba lớp tự chọn về mục vụ (9 credits), một lớp thực hành bối cảnh (3 credits), và một bài tiểu luận tự chọn (30 trang) về một môn mình đã học. Cụ thể, các môn học của ngành Quản Trị Mục Vụ gồm:

– Nhập môn thần học và sứ vụ (The introduction to Theology and Ministry): giúp khám phá sự tương tác giữa truyền thống và sứ vụ, giữa thần học và thực hành. Nó cũng giúp các sinh viên khám phá lại lịch sử về mục vụ cùng với những xung khắc giữa nền tảng truyền thống và mục vụ trong bối cảnh hiện tại. Thêm vào đó, họ khám phá và nghiên cứu về sự phát triển của Thần học, những phê bình thần học truyền thống và hiện đại.

– Văn chương Israel thời cổ đại (Literature of Ancient Israel): là môn học về Cựu Ước, văn chương thánh của Kitô giáo và Do Thái Giáo. Các sinh viên sẽ tìm về tiến trình hình thành các áng văn chương thánh trong bối cảnh Cựu Ước bằng những phương pháp nghiên cứu Thánh Kinh mới, và những áp dụng trong đời sống mục vụ của Giáo Hội.

– Nguồn gốc Kitô giáo (Christian Origins: An Exploration of the New Testament): là môn học về Tân Ước, lịch sử hình thành các sách thánh trong bối cảnh xã hội Do Thái, chịu ảnh hưởng văn hóa Hy Lạp và Rôma, và những áp dụng trong đời sống mục vụ của Giáo Hội.

– Giáo lý Kitô Giáo và lịch sử hình thành (Christian Doctrine and Its History: Grace, Christ, and the Spirit): Các sinh viên sẽ thấy được tiến trình hình thành giáo lý Kitô giáo từ Tân Ước và thần học Kitô giáo hôm nay giải thích thế nào về tội và ân sủng, khái niệm về ơn cứu độ, vai trò của Chúa Giêsu và đức tin Kitô giáo.

– Giáo hội và sứ vụ (Church and its Mission): trình bày mối tương quan của người Kitô hữu trong sự hiệp thông với Giáo Hội và sự phát triển con người đích thực. Khóa học nhấn mạnh nhiều hơn đến các mối quan hệ cộng đồng và cơ cấu (orders) nhằm làm nổi bật nhiệm vụ của Giáo hội trong xã hội hôm nay. Đặc biệt, môn học này sẽ bàn nhiều đến bốn chủ đề: nữ quyền, tâm linh hóa, toàn cầu hóa và căn tính Công giáo (duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền) nhìn từ quan điểm của vũ trụ học.

– Phụng vụ và các Bí tích Kitô giáo (Liturgy and Christian Sacraments): giúp cho các sinh viên có cái nhìn tổng quát về lịch sử và thần học của nghi lễ truyền thống Kitô giáo, đặc biệt là việc cải cách phụng vụ theo công đồng Vaticano II.

– Luân lý Kitô giáo và Đạo đức học (Christian Moral Theology and Ethics): đề cập đến nền tảng cơ bản của đạo đức Kitô giáo liên quan đến các hoạt động trong đời sống người Kitô hữu. Môn học bàn nhiều về lịch sử luân lý Kitô giáo, sự hình thành nền luân lý trong cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, thần học luân lý, nhân chủng học, lương tâm, phương pháp tư duy đạo đức, tội lỗi… cùng những áp dụng luân lý Kitô giáo trong lãnh vực kinh tế, bạo lực, tình dục, môi trường và sinh học.

– Con người và sự phát triển tâm lý (The Human Person and Psychological Development): giúp nghiên cứu sâu hơn về sự phát triển và trưởng thành của con người trong mỗi giai đoạn khác nhau để có những ứng xử mục vụ thích hợp. Từ cái nhìn chung về con người cho đến những đặc thù văn hóa và giới tính, môn học giúp các sinh viên tìm hiểu sâu rộng về tâm lý mục vụ được áp dụng một cách đặc thù theo bối cảnh.

– Phát triển thừa tác vụ (Ministerial Development): các sinh viên có dịp học qua một số môn học giúp họ trau dồi kiến thức, thái độ và kỹ năng liên quan trực tiếp đến mục vụ và cũng có liên quan đến những ngành khác như tư vấn, đạo đức y tế, quản trị kinh doanh, lãnh đạo, tổ chức phát triển và pháp luật. Sinh viên sẽ chọn 3 trong 5 lớp: Thúc đẩy – tổ chức hành động nhân danh công lý (Promoting or organizing action on behalf of justice), thừa tác vụ giới trẻ (Youth ministry), mục vụ hiện diện và chăm sóc người bệnh – kẻ chết (Pastoral presence and care for the sick and the dying), thừa tác vụ giáo xứ (Parish ministry), thừa tác vụ sức khỏe (Health ministries).

– Phát triển bối cảnh (Contextual Development): đây là môn học thực hành bối cảnh để giúp các sinh viên phối hợp bốn chiều kích của chương trình đào tạo lại với nhau: Thuộc linh, trí thức, mục vụ, và con người. Các sinh viên sẽ được gởi tới một nơi cụ thể để thực hành mục vụ và chịu sự giám sát của nhà trường.

Tôi bắt đầu chương trình vào học kỳ mùa thu (fall semester). Các học sinh quốc tế phải học toàn thời gian (full time). Lúc học ở trường Cao Đẳng Houston, học full time nghĩa là phải lấy bốn môn một học kỳ, ở đây tôi có thể lấy ba môn. Sở dĩ có sự khác nhau như thế là vì khi học chương trình này, tôi phải đọc và viết bài nhiều hơn. Một tuần, tôi lên lớp ba buổi, thứ hai học môn Kinh Thánh, thứ tư học môn Bí Tích và thứ năm học môn Thần Học Sứ Vụ. Mỗi buổi học kéo dài 2 giờ 30 phút, và phần lớn thời gian dành để trao đổi giữa giáo sư và sinh viên và giữa các sinh viên với nhau. Điều tôi cảm nhận ở các lớp học của Khoa Mục Vụ chính là sự thân tình giữa thầy và trò, và giữa các anh chị em trong lớp với nhau. Nhiều khi họ trao đổi những vấn đề rất riêng tư về cá nhân, gia đình hay môi trường họ đang sống. Một hôm, trong lớp Kinh Thánh, có một chị chia sẻ rất chân thành: “Tôi bị mất đức tin, đó là lý do tôi lấy lớp này.” Ngoài ra, tôi có thể gặp gỡ các thầy cô hay giáo sư cố vấn (advisor, counselor) vào giờ riêng, miễn là có điện thoại hay email trước để họ sắp xếp thời gian. Bất cứ khi nào gặp khó khăn, các thầy cô sẵn sàng giúp đỡ nhiệt tình, mà không hề đặt bất cứ điều kiện gì.

Học kỳ mùa thu đã trôi qua một cách êm ả, mọi việc diễn tiến thuận lợi và tốt đẹp. Tôi đã được hưởng một mùa đông băng giá đầu tiên tại thành phố gió (windy city), quê hương của đương kim tổng thống. Cả thành phố phủ đầy tuyết trắng và dầy vào những ngày đầu của mùa đông và sẽ kéo dài cho đến đầu tháng tư. Sau những lần tuyết rơi, nhiệt độ những ngày sau đó sẽ xuống rất thấp, có khi xuống đến -16 độ C. Sống ở nơi đây những ngày mùa đông làm tôi nhớ đến bài hát “Green the Whole Year Round” của nhạc sĩ David Downes người New Zealand, có đoạn:

“The winter lays her fingers cold

On dark and lonely nights

But Christmas it will soon be here

To usher in the light

And when morning breaks and the bells ring out

It is such a joyous sound

To hear them echo in the trees

That are green the whole year ’round.” (Downes)

Tạm dịch: “Rồi nàng đông chạm những ngón tay buốt giá

Trong những đêm lạnh lẽo quạnh hiu

Nhưng chẳng lâu nữa Giáng sinh sẽ về

Báo hiệu trong ánh sáng

Và khi trời bừng sáng, tiếng chuông reo,

Có thứ âm thanh vui nhộn

Nghe vang vọng từ bao cây cối,

Là xanh thắm suốt cả năm trường.”

Quả thật, tuy mùa đông làm tôi cảm thấy cô đơn và trống vắng, nhưng lại là lúc tập trung học tập nhiều hơn những mùa khác. Tôi đang tận hưởng một kỳ nghỉ tại Houston sau những ngày học tập vất vả, mừng lễ Giáng Sinh với cộng đồng Việt Nam và chuẩn bị cho kỳ họp mặt anh chị em linh mục và tu sĩ du học tại Hoa Kỳ. Hy vọng sau kỳ nghỉ này, tôi đủ sức tiếp tục cuộc hành trình với học kỳ mùa xuân, học kỳ thứ hai của tôi tại Đại Học Loyola Chicago.

Tài Liệu Tham Khảo

Downes, David. Metrolyrics – Celtic Woman. 2010. 20 12 2010 http://www.metrolyrics.com.
IPS – Institude of Pastoral Studies. Loyola University Chicago. 2010. 15 11 2010 http://www.luc.edu.
LUC – Loyola University Chicago. Loyola university Chicago. 2010. 15 11 2010 http://www.luc.edu.

One response to “Học Kỳ Đầu Tiên Của Tôi Tại Loyola University Chicago

  1. ồ..thì ra bài hát này có ý nghĩa đến như vậy..
    “Là xanh thắm suốt cả năm trường.”…

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s